Dưới mặt nước, lòng hồ Tà Đùng là nguyên vẹn địa hình thung lũng sông Đồng Nai và các khe suối trước khi tích nước. Vì thế độ sâu không đều: sâu nhất dọc lòng sông cũ và về phía đập, nông ở các vịnh nhánh, và có thể đổi từ vài mét sang hàng chục mét chỉ trong một quãng ngắn khi đi từ sườn đồi ngập ra lòng khe. Đáy hồ còn cây rừng chết, gốc cây, nền đất cũ, phủ dần bởi lớp bùn mới.
Chưa có bản đồ độ sâu chi tiết của hồ được công bố rộng rãi, và những con số "hồ sâu bao nhiêu mét" trên mạng thường không nêu nguồn, có khi nhầm cao trình mặt hồ với độ sâu. Bài này giải thích cách suy ra hình dạng đáy hồ từ địa hình, những gì còn nằm dưới đáy, môi trường ở tầng sâu và vì sao lòng hồ quan trọng với cả sinh thái lẫn an toàn.
Đáy hồ là một tấm bản đồ địa hình bị phủ nước
Khi nước dâng vào thung lũng, nó không làm thay đổi hình dạng mặt đất bên dưới. Mọi đỉnh đồi, sườn dốc, khe suối, lòng sông, yên ngựa vẫn nguyên ở đó, chỉ có điều nay nằm dưới nước. Muốn hình dung đáy hồ, cách đơn giản nhất là nhìn vùng đồi trên cạn ngay quanh Tà Đùng: đáy hồ có hình dạng y như vậy, chỉ thấp hơn và đã bị nước che.
Từ đó suy ra vài quy luật. Nơi sâu nhất là lòng sông Đồng Nai cũ chạy dọc theo trục chính của hồ, sâu dần về phía đập vì sông vốn dốc xuống theo hướng chảy. Các vịnh nhánh là khe suối cũ, sâu nhất ở giữa khe và nông dần vào trong. Quanh mỗi đảo, độ sâu tăng theo độ dốc sườn đồi cũ: sườn thoải thì nông kéo dài, sườn dốc thì sâu ngay sát bờ. Một mũi đất nhô ra hồ thường tiếp tục chìm dần dưới nước theo hướng sống đồi.
Cũng có thể đọc độ sâu qua màu nước khi trời nắng và nước tương đối trong. Chỗ nước xanh đậm gần như đen thường là chỗ sâu, ánh sáng đi xuống mà không gặp đáy. Chỗ nước ngả màu nâu nhạt, vàng nhạt hoặc xanh lục sáng thường là chỗ nông, ánh sáng chạm tới đáy bùn đỏ và phản lên. Ranh giới giữa hai màu, nhìn từ trên đồi cao, vẽ ra khá rõ mép của lòng khe cũ. Cách đọc này chỉ dùng để hiểu cảnh quan; khi đi thuyền hay xuống nước, không ai được dựa vào màu nước để đoán độ sâu.
Độ sâu thay đổi theo dạng địa hình cũ
Không có số đo cụ thể, có thể mô tả độ sâu tương đối theo từng dạng địa hình bị ngập như sau:
| Dạng địa hình cũ | Vị trí trên hồ hôm nay | Độ sâu tương đối | Đặc điểm cần biết |
|---|---|---|---|
| Lòng sông chính | Trục giữa hồ, theo hướng dài nhất | Sâu nhất | Nước lạnh ở tầng đáy, có thể có dòng chảy ngầm nhẹ |
| Khe suối nhánh | Các vịnh dài thọc vào đất liền | Sâu ở giữa, nông ở đầu vịnh | Đầu vịnh bồi bùn cát, nhiều cây chết |
| Sườn đồi | Vùng nước ven đảo và bờ | Tăng nhanh theo khoảng cách từ bờ | Có thể có bậc xói dưới nước |
| Yên ngựa giữa hai đồi | Eo nước hẹp giữa hai đảo | Nông bất ngờ | Lộ ra khi nước thấp; dễ mắc cạn |
| Đỉnh đồi thấp bị ngập | Giữa vùng nước rộng, không nhìn thấy | Nông cục bộ | Gò ngầm nguy hiểm với thuyền khi nước xuống |
Bảng cho thấy vì sao người lái thuyền lâu năm trên hồ thường đi theo những tuyến quen: họ đã biết chỗ nào là gò ngầm, chỗ nào là yên ngựa. Mùa khô, khi mặt hồ hạ, các gò ngầm tiến gần mặt nước và trở thành mối nguy thực sự.
Một điều nữa: vì hồ lên xuống theo mùa, cùng một vị trí có thể sâu hơn hay nông hơn nhiều mét giữa hai lần ghé. Chỗ tháng Mười Một thuyền chạy thoải mái, tháng Tư có thể đã thành bãi bùn. Kinh nghiệm về độ sâu ở hồ chứa luôn phải kèm câu hỏi: vào lúc mực nước nào.
Những gì còn lại dưới đáy hồ
Trước khi tích nước, vùng lòng hồ được chuẩn bị theo quy định: di dời dân cư, thu dọn công trình, và tuỳ phạm vi, thu dọn một phần cây cối. Không phải toàn bộ cây đều được dọn; phần nằm sâu, khó tiếp cận hoặc nằm ở rìa thường còn lại. Sau khi bị ngập, phần thân cây trên mặt nước khô và đổ dần, còn phần dưới nước có thể tồn tại rất lâu, vì nước sâu lạnh và nghèo oxy làm gỗ phân huỷ chậm. Ở các vịnh nông, ngọn và cành những cây ấy vẫn nhô lên khỏi mặt nước sau nhiều năm.
Ngoài cây, đáy hồ còn là nền đất cũ: đất vườn, đất rẫy, nền đường mòn, bờ ruộng, những dấu vết mà mùa khô đôi khi để lộ ra ở dải bờ. Phủ lên tất cả là lớp bùn mới hình thành từ bồi lắng, dày ở cửa suối và đuôi hồ, mỏng ở thân hồ. Phần ký ức con người gắn với những gì nằm dưới đáy là câu chuyện của cộng đồng tái định cư, không thuộc phạm vi bài khoa học này.
Môi trường ở tầng sâu: lạnh, tối và nghèo oxy
Ở một hồ đủ sâu trong vùng nhiệt đới, ánh nắng làm ấm tầng nước mặt, còn tầng dưới vẫn lạnh. Nước ấm nhẹ hơn nên nằm trên, nước lạnh nặng hơn nằm dưới, hai tầng ít trộn lẫn, hiện tượng gọi là phân tầng nhiệt. Ở tầng sâu, ánh sáng không xuống tới nên không có quang hợp, oxy chỉ bị tiêu thụ bởi quá trình phân huỷ chất hữu cơ, kể cả cây chết dưới đáy. Kết quả là tầng đáy của nhiều hồ chứa nhiệt đới thiếu oxy trong phần lớn năm.
Hồ Đồng Nai 3 có phân tầng hay không, mạnh đến đâu, tầng đáy thiếu oxy tới mức nào là những câu hỏi cần số liệu quan trắc; nguyên lý chung cho thấy khả năng cao là có, nhất là ở phần sâu gần đập và trong mùa nắng. Điều này có ý nghĩa thực tế: cá ít xuống tầng sâu, chất hữu cơ dưới đáy phân huỷ chậm, và nước lấy từ độ sâu lớn có thể khác hẳn nước mặt về nhiệt độ và oxy. Khía cạnh sinh thái được bàn đầy đủ trong chuyên mục Sinh thái nước và cá hồ.
Vì sao lòng hồ quan trọng với an toàn
Độ sâu đổi đột ngột. Người lội từ bờ có thể đang đứng ở chỗ nước tới đầu gối rồi chỉ một bước đã hụt chân xuống chỗ sâu quá đầu, vì đó là mép khe suối cũ. Đây là đặc điểm chung của hồ chứa vùng đồi và khác hẳn bãi biển thoải.
Cây và cành chìm. Cây chết dưới mặt nước có thể vướng chân người bơi, vướng chân vịt thuyền máy, hoặc làm thủng thân thuyền nhỏ. Nước hồ thường không đủ trong để nhìn thấy từ xa.
Nước lạnh ở dưới. Lớp nước mặt ấm có thể chỉ dày vài mét; xuống sâu hơn nước lạnh hẳn, có thể gây co cơ hoặc sốc lạnh cho người bơi lâu.
Đáy bùn mềm. Ở đầu vịnh và cửa suối, lớp bùn mới có thể rất mềm, chân lún sâu, khó rút ra.
Gò ngầm khi nước thấp. Đỉnh đồi bị ngập nằm sát mặt nước vào mùa khô, nguy hiểm cho thuyền chạy nhanh.
Một mặt cắt giả định từ bờ ra giữa hồ
Để dễ hình dung, thử đi theo một mặt cắt giả định từ bờ một đảo ra tới trục giữa hồ, với các con số chỉ mang tính minh hoạ, là ví dụ giả định. Bắt đầu ở mép nước, đáy là sườn đồi cũ phủ đất đỏ, dốc vừa phải; đi ra vài chục mét, nước sâu dần lên vài mét. Rồi sườn đồi cũ gặp mép khe suối, độ dốc tăng mạnh, chỉ trong vài mét ngang độ sâu có thể tăng gấp đôi, gấp ba. Đáy khe là một dải hẹp, có thể còn đá cuội của suối cũ và cây đổ.
Qua bên kia khe, đáy lại nhô lên theo sườn của quả đồi kế tiếp, có khi lên gần mặt nước nếu đó là một gò ngầm. Ra tới trục chính, đáy hạ xuống lòng sông cũ, chỗ sâu nhất của mặt cắt. Trên mặt nước, cả mặt cắt ấy trông phẳng lặng như nhau. Chính sự tương phản giữa mặt nước phẳng và đáy gồ ghề là điều người mới đến hồ chứa vùng đồi hay đánh giá thấp.
Người ta đo đáy hồ bằng cách nào
Muốn có bản đồ độ sâu, người ta khảo sát bằng máy hồi âm đặt trên thuyền: máy phát sóng âm xuống đáy và đo thời gian sóng dội lại, từ đó tính ra độ sâu tại từng điểm, kết hợp định vị vệ tinh để biết điểm đo nằm đâu. Thuyền chạy theo các tuyến song song phủ kín mặt hồ, số liệu được nội suy thành bản đồ đường đồng sâu. Máy hồi âm đa tia hiện đại quét được cả một dải rộng mỗi lần chạy, cho bản đồ chi tiết như ảnh chụp.
Một cách khác dựa vào bản đồ địa hình trước khi tích nước: vì đáy hồ là địa hình cũ, đem bản đồ đường đồng mức cũ trừ đi cao trình mặt hồ là có độ sâu gần đúng, chưa tính bồi lắng. Các đơn vị quản lý hồ chứa khảo sát lại lòng hồ định kỳ để tính lượng bồi lắng và cập nhật quan hệ giữa mực nước và dung tích. Những bản đồ này phục vụ vận hành và thường không phổ biến rộng rãi; người cần nên liên hệ cơ quan có thẩm quyền.
Lòng hồ thay đổi theo thời gian
Lòng hồ không đứng yên. Mỗi mùa mưa thêm một lớp bùn cát ở cửa suối và đuôi hồ, làm các vịnh nhánh nông dần. Cây chết dưới nước gãy đổ theo năm tháng, một số nổi lên trôi dạt khi mục rỗng, rồi tấp vào bờ hay vào lưới chắn rác của nhà máy. Bờ sườn dưới nước, nơi sóng bào mỗi khi mặt hồ đứng ở một mức, dần hình thành những bậc thềm nhỏ. Sau vài chục năm, lòng hồ sẽ trơn hơn, nông hơn ở thượng hồ, ít cây chìm hơn so với hôm nay.
Cũng vì thế, mọi mô tả về đáy hồ, kể cả bài này, chỉ đúng cho một thời điểm. Người đi lại trên hồ thường xuyên nên coi kinh nghiệm của mình là thứ phải cập nhật hằng năm, nhất là sau những mùa lũ lớn. Với người tìm hiểu, đây lại là điều thú vị: một hồ chứa còn trẻ như hồ Tà Đùng cho phép quan sát tận mắt những quá trình mà ở hồ tự nhiên đã diễn ra xong từ hàng nghìn năm trước.
Câu hỏi thường gặp
Hồ Tà Đùng sâu bao nhiêu mét?
Chưa có số đo độ sâu chính thức được công bố rộng rãi. Độ sâu thay đổi rất nhiều: sâu nhất dọc lòng sông Đồng Nai cũ và về phía đập, nông ở đầu các vịnh nhánh và quanh yên ngựa giữa các đảo. Các con số trên mạng thường không nêu nguồn, có khi nhầm cao trình mặt hồ với độ sâu.
Dưới đáy hồ còn làng cũ không?
Vùng lòng hồ được di dời dân cư và thu dọn công trình trước khi tích nước theo quy định. Những gì còn lại dưới đáy chủ yếu là nền đất cũ, gốc cây, cây chết chưa dọn hết và lớp bùn bồi mới. Mùa khô, một số dấu vết lộ ra ở dải bờ.
Vì sao nước hồ có màu xanh đậm ở giữa và nhạt ở vịnh?
Ở chỗ sâu, ánh sáng đi xuống không gặp đáy, nước hấp thụ phần lớn ánh sáng đỏ và phản lại sắc xanh đậm. Ở vịnh nông, ánh sáng chạm đáy bùn đỏ hoặc vàng, cộng với bùn lơ lửng và tảo, nên nước nhạt màu hoặc ngả nâu xanh.
Cây chết dưới nước có làm bẩn hồ không?
Cây chết phân huỷ rất chậm và tiêu thụ oxy ở tầng đáy, góp phần làm tầng sâu nghèo oxy, nhất là trong những năm đầu sau tích nước. Về lâu dài, ảnh hưởng giảm dần khi nguồn hữu cơ cũ cạn. Tác động cụ thể ở hồ cần số liệu quan trắc.
Lặn ở hồ Tà Đùng có an toàn không?
Lặn ở hồ chứa có nhiều rủi ro: tầm nhìn kém, cây và cành chìm dễ vướng, độ sâu thay đổi đột ngột, nước lạnh và có thể thiếu oxy ở tầng sâu. Không nên lặn khi không có huấn luyện, thiết bị và tổ chức an toàn chuyên nghiệp.
Có bản đồ độ sâu hồ cho công chúng không?
Các đơn vị quản lý hồ chứa có khảo sát lòng hồ để phục vụ vận hành, nhưng bản đồ thường không phổ biến rộng rãi. Người cần cho nghiên cứu hoặc công việc nên liên hệ cơ quan có thẩm quyền. Hải đồ phục vụ giao thông thủy nội địa, nếu có, cũng do cơ quan chuyên ngành phát hành.