TaDung.com.vnTà Đùng.com.vn
Hồ thủy điện Đồng Nai 3

Nước hồ Tà Đùng từ đâu đến: sông Đồng Nai từ cao nguyên Lâm Viên về vùng hồ

Nước hồ Tà Đùng đến từ dòng chính sông Đồng Nai, chảy xuống từ cao nguyên Lâm Viên, cộng các suối nhánh hai bên cao nguyên Đắk Nông và Di Linh, nuôi bằng mưa mùa.

Clear mountain stream tumbling over dark rocks through dense evergreen forest, ferns on the banks, soft diffused light after rain, the stream heading downhill toward a valley

Nước hồ Tà Đùng đến chủ yếu từ dòng chính sông Đồng Nai, con sông bắt nguồn trên cao nguyên Lâm Viên rồi chảy về phía tây nam, tách hai khối cao nguyên Đắk Nông và Di Linh. Cộng thêm vào đó là nước của rất nhiều suối nhánh đổ thẳng vào hồ từ hai bên sườn cao nguyên. Tất cả đều có chung một gốc: mưa mùa rơi trên lưu vực, thấm vào đất bazan và rừng, rồi chảy dần ra suối.

Hiểu lưu vực là hiểu vì sao hồ lên xuống, vì sao nước có lúc đục lúc trong, và vì sao rừng ở cách xa hàng chục cây số vẫn liên quan đến mặt hồ trước mắt. Bài này đi từ khái niệm lưu vực, qua đường đi của sông Đồng Nai từ đầu nguồn tới vùng hồ, tới vai trò của các suối nhánh quanh Tà Đùng và các yếu tố quyết định lượng nước về hồ mỗi năm.

Lưu vực là gì, nhìn từ một giọt mưa

Lưu vực của một điểm trên sông là toàn bộ vùng đất mà nước mưa rơi xuống sẽ chảy về điểm đó. Ranh giới lưu vực là đường phân thủy, đi theo các đỉnh và sống núi: giọt mưa rơi bên này đường phân thủy chảy về sông này, rơi bên kia chảy về sông khác. Một hồ chứa vì thế "thu" nước của cả lưu vực phía trên đập, rộng gấp nhiều lần chính mặt hồ.

Với hồ Đồng Nai 3, lưu vực gồm phần thượng nguồn sông Đồng Nai phía trên đập, trải trên cao nguyên Lâm Viên, cao nguyên Di Linh và rìa cao nguyên Đắk Nông. Diện tích lưu vực chính xác được ghi trong hồ sơ công trình; ở đây chỉ cần nắm điều cốt lõi: phần lớn nước trong hồ không phải mưa rơi xuống ngay vùng Tà Đùng, mà là mưa của cả một vùng cao nguyên rộng lớn, chảy về qua nhiều ngày, nhiều tuần.

Đây cũng là lý do một trận mưa lớn ở Đà Lạt hay Lâm Hà có thể làm hồ ở Tà Đùng lên dù tại chỗ trời vẫn nắng, và ngược lại một cơn giông lớn ở Tà Đùng chưa chắc làm hồ thay đổi đáng kể nếu thượng nguồn khô.

Đường đi của sông Đồng Nai tới vùng hồ

Đi theo dòng nước từ đầu nguồn xuống, có thể chia thành các chặng lớn. Tên sông ở đoạn đầu được ghi khác nhau giữa các tài liệu, nên ở đây dùng cách gọi phổ biến:

  • Đầu nguồn trên cao nguyên Lâm Viên. Sông Đồng Nai bắt nguồn từ vùng núi cao phía bắc Đà Lạt, đoạn đầu thường được gọi là sông Đa Dâng (Đạ Đờng). Đây là vùng mưa nhiều, rừng thông và rừng lá rộng xen kẽ.
  • Hợp lưu với sông Đa Nhim. Sông Đa Nhim chảy từ phía đông bắc về, hợp vào dòng chính. Một phần nước Đa Nhim được các công trình thủy điện ở thượng nguồn chuyển sang các tỉnh duyên hải phía đông, nên không phải toàn bộ nước của nhánh này về tới Tà Đùng.
  • Đoạn chảy qua cao nguyên Di Linh – Lâm Hà. Dòng sông lớn dần nhờ các nhánh, chảy về phía tây nam, bắt đầu khoét sâu lòng giữa các khối cao nguyên. Trên đoạn này có các công trình thủy điện bậc trên.
  • Vào vùng hồ Đồng Nai 3. Sông đi vào thung lũng sâu giữa cao nguyên Đắk Nông phía bắc và cao nguyên Di Linh, Bảo Lâm phía nam. Từ đây, dòng chảy gặp nước tĩnh của hồ, chậm lại và trải rộng thành mặt hồ có nhiều đảo quanh Tà Đùng.
  • Qua đập, xuống bậc dưới. Nước rời hồ qua tua bin và tràn, tiếp tục xuống các hồ bậc dưới rồi về vùng Đông Nam Bộ.

Chi tiết từng công trình trên đường đi, cách chúng phối hợp với nhau được bàn trong bài về bậc thang thủy điện và vận hành liên hồ chứa trên sông Đồng Nai.

Các suối nhánh quanh Tà Đùng: nhỏ nhưng nhiều

Ngoài dòng chính, hồ nhận nước từ rất nhiều suối nhánh chảy xuống từ hai bên sườn cao nguyên. Phía bờ bắc, suối bắt nguồn trên vùng cao của xã Tà Đùng và khu vực Vườn quốc gia Tà Đùng; phía bờ nam, suối chảy từ vùng đồi Bảo Lâm cũ. Mỗi suối riêng lẻ không lớn, nhiều suối chỉ chảy mạnh trong mùa mưa, nhưng cộng lại chúng tạo thành một phần đáng kể lượng nước và bùn cát vào hồ, nhất là ở thượng hồ.

Suối nhánh có tính cách rất khác dòng chính. Lưu vực nhỏ nên phản ứng nhanh với mưa: một cơn giông chiều có thể làm suối dâng đục ngầu trong vài chục phút rồi rút trong vài giờ. Dòng chính thì phản ứng chậm hơn nhưng kéo dài hơn, vì gom nước từ nhiều nơi. Sự chênh lệch nhịp này giải thích hiện tượng hay gặp: cửa suối gần Tà Đùng đục đỏ sau cơn mưa chiều, trong khi mặt hồ chính vẫn xanh.

Tên các suối nhỏ trong vùng thường là tên địa phương, có khi đổi theo thôn, theo người gọi. Bài này không liệt kê tên suối khi chưa đối chiếu được với bản đồ địa hình chính thức; người cần tên cụ thể nên tra bản đồ của cơ quan đo đạc hoặc hỏi chính quyền xã.

Một năm của một suối nhánh quanh Tà Đùng

Theo một suối nhánh điển hình chảy từ vùng đồi xuống hồ qua bốn mùa sẽ thấy rõ cách lưu vực vận hành. Cuối mùa khô, suối chỉ còn một dòng trong vắt len giữa đá, nhiều đoạn đứt thành vũng; nước lúc này hoàn toàn là nước ngầm rỉ ra từ chân sườn. Những trận mưa giông đầu mùa làm suối bất chợt dâng đục ngầu trong một buổi chiều rồi rút ngay, vì đất còn khô, nước chảy tràn trên mặt.

Giữa mùa mưa, khi đất đã no nước, suối chảy mạnh và đều, đục sau mỗi cơn mưa lớn và trong lại chậm hơn. Đây là lúc suối mang nhiều nước và bùn cát vào hồ nhất. Sang đầu mùa khô, mưa thưa dần nhưng suối vẫn chảy khá nhiều trong vài tuần, có khi vài tháng, nhờ lượng nước đất bazan đã tích. Rồi dòng chảy hạ dần, trong dần, quay về trạng thái cuối mùa khô. Cửa suối cũng dịch chuyển theo năm: khi hồ cao, suối gặp nước hồ ở xa trong đất liền; khi hồ thấp, suối phải chảy thêm một quãng qua dải bờ trơ mới tới mép nước.

Mưa trên lưu vực đến từ đâu

Vùng thượng nguồn sông Đồng Nai nằm trong chế độ gió mùa Tây Nguyên. Mùa mưa gắn với gió mùa Tây Nam, thường từ khoảng tháng Năm đến tháng Mười hoặc Mười Một, mang hơi ẩm từ vịnh Thái Lan và Ấn Độ Dương thổi vào sườn tây của các cao nguyên. Mùa khô gắn với gió mùa Đông Bắc, khi không khí đã mất phần lớn hơi ẩm sau khi vượt dãy Trường Sơn, cao nguyên nắng và khô kéo dài.

Vì địa hình cao, mưa ở đây thường lớn hơn vùng đồng bằng phía dưới: không khí ẩm bị đẩy lên sườn núi, lạnh đi, ngưng tụ thành mây và mưa, hiện tượng các nhà khí tượng gọi là mưa địa hình. Sườn đón gió mưa nhiều hơn sườn khuất gió. Bức tranh chi tiết về mưa, sương và mây của vùng Tà Đùng được giải thích trong chuyên mục Khí hậu, sương và mây; với hồ, điều quan trọng là gần như toàn bộ nước vào hồ trong năm bắt nguồn từ vài tháng mùa mưa này.

Vì sao mùa khô vẫn có nước chảy về hồ

Đất bazan như một miếng bọt biển. Lớp đất đỏ phong hoá dày nhiều mét, nhiều lỗ rỗng, thấm và giữ một lượng nước lớn trong mùa mưa, rồi nhả dần ra các mạch suối trong mùa khô. Đây là nguồn chính của dòng kiệt.

Đá bazan nứt nẻ chứa nước ngầm. Bên dưới lớp đất, đá bazan có nhiều khe nứt, lỗ hổng khí, là tầng chứa nước ngầm. Nước ngầm thoát ra ở chân sườn, ở đáy suối, nuôi dòng chảy kể cả sau nhiều tháng không mưa.

Rừng điều hoà dòng chảy. Tán rừng và thảm mục làm mưa thấm vào đất thay vì chảy tràn; rễ cây và lớp đất rừng tơi xốp giữ nước lâu hơn đất trống. Lưu vực còn nhiều rừng thì dòng kiệt bền hơn.

Sương và mây ở vùng cao. Ở những vùng núi thường xuyên có mây phủ, tán cây giữ lại những giọt nước từ sương mây, một lượng nhỏ nhưng có ý nghĩa trong mùa khô. Mức đóng góp của hiện tượng này ở Tà Đùng chưa có số liệu đo.

Rừng đầu nguồn và lượng nước về hồ: mối liên hệ thật

Câu "rừng giữ nước" được nhắc nhiều đến mức thành khẩu hiệu, nhưng cơ chế thì cụ thể. Một lưu vực có rừng cho dòng chảy lũ thấp và chậm hơn, ít bùn cát hơn, và dòng kiệt mùa khô đều hơn so với cùng lưu vực khi rừng đã mất. Tổng lượng nước cả năm thì không nhất thiết tăng khi có rừng, vì cây cũng thoát hơi nước nhiều; cái rừng làm được chủ yếu là phân phối lại dòng chảy theo thời gian và giữ đất.

Với một hồ điều tiết như Đồng Nai 3, cả ba tác dụng đều có giá trị: lũ về êm hơn thì vận hành an toàn hơn, ít bùn cát thì hồ sống lâu hơn, dòng kiệt đều thì mùa khô bớt căng. Đó là cơ sở khoa học cho việc các nhà máy thủy điện ở Việt Nam phải chi trả dịch vụ môi trường rừng cho chủ rừng trên lưu vực theo quy định của pháp luật lâm nghiệp. Rừng của Vườn quốc gia Tà Đùng và các khu rừng quanh thượng nguồn là một phần của hệ thống đó.

Những thay đổi trên lưu vực ảnh hưởng tới hồ

Lượng nước về hồ không chỉ do trời. Các công trình chuyển nước ở thượng nguồn lấy đi một phần nước sang lưu vực khác. Các hồ chứa bậc trên trữ và nhả nước theo lịch của chúng, làm dòng chảy về Đồng Nai 3 khác với dòng tự nhiên. Việc lấy nước tưới cho cà phê, rau màu trên cao nguyên, nhất là trong mùa khô, làm giảm dòng kiệt của các suối nhánh. Rừng chuyển sang đất canh tác làm lũ dữ hơn và dòng kiệt yếu hơn.

Mỗi thay đổi riêng lẻ có thể nhỏ, nhưng cộng lại trên một lưu vực rộng thì đáng kể. Đó là lý do quản lý tài nguyên nước hiện đại nhìn theo cả lưu vực chứ không theo từng công trình, và lý do Luật Tài nguyên nước đặt nguyên tắc quản lý tổng hợp theo lưu vực sông. Người sống quanh Tà Đùng là một mắt xích trong chuỗi ấy: nước họ dùng hôm nay đến từ rừng của người khác ở thượng nguồn, và nước họ thải ra hôm nay sẽ là nước của người khác ở hạ du.

Câu hỏi thường gặp

Sông Đồng Nai bắt nguồn từ đâu?

Sông Đồng Nai bắt nguồn từ vùng núi cao trên cao nguyên Lâm Viên, phía bắc Đà Lạt, đoạn đầu thường được gọi là sông Đa Dâng. Sau khi nhận nhánh Đa Nhim và nhiều nhánh khác, sông chảy về phía tây nam qua vùng hồ Tà Đùng rồi xuống Đông Nam Bộ.

Mưa ở Tà Đùng có làm hồ lên ngay không?

Mưa tại chỗ chỉ là một phần nhỏ. Hồ lên chủ yếu khi cả lưu vực thượng nguồn có mưa kéo dài, đất đã bão hoà và các suối, sông đổ về mạnh. Một cơn giông tại chỗ làm cửa suối đục và dâng nhanh nhưng mặt hồ chính thay đổi ít.

Vì sao suối quanh hồ có cái cạn mùa khô, có cái vẫn chảy?

Suối có lưu vực rừng và đất dày, được nước ngầm trong đá bazan nuôi thì vẫn chảy mùa khô. Suối có lưu vực nhỏ, đất trống hoặc bị lấy nước tưới nhiều thì dễ cạn. Vị trí so với các mạch nước ngầm cũng quyết định.

Nước hồ Tà Đùng có dùng làm nước sinh hoạt được không?

Nước hồ chứa là nước mặt, muốn dùng sinh hoạt phải qua xử lý đạt quy chuẩn nước sạch. Không nên uống trực tiếp nước hồ hay nước suối. Hộ gia đình nên dùng nguồn nước đã được kiểm tra chất lượng.

Có phải toàn bộ nước sông Đa Nhim chảy về Tà Đùng?

Không. Một phần nước thượng nguồn Đa Nhim được các công trình thủy điện chuyển sang sườn đông, về các tỉnh duyên hải. Phần còn lại cùng các nhánh khác mới chảy về dòng chính sông Đồng Nai và về vùng hồ.

Chi trả dịch vụ môi trường rừng liên quan gì đến hồ?

Theo pháp luật lâm nghiệp, các cơ sở thủy điện sử dụng nước từ lưu vực có rừng phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng, khoản này được chuyển tới chủ rừng và người nhận khoán bảo vệ rừng. Cơ sở khoa học là rừng điều hoà dòng chảy và giảm bồi lắng cho hồ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83