Lịch sử địa chất vùng Tà Đùng có thể kể theo năm chương lớn: biển nông thời Trung sinh để lại các lớp đá trầm tích; hoạt động magma tạo ra granit và đá phun trào; một thời kỳ dài nâng lên và bào mòn khi châu Á biến động mạnh; những đợt dung nham bazan phủ thành cao nguyên trong vài triệu năm gần đây; và cuối cùng là sông Đồng Nai đào thung lũng sâu trong khi mưa biến bazan thành đất đỏ. Hồ chứa Đồng Nai 3 là trang mới nhất, do con người viết.
Bài này dựng dòng thời gian theo khung chung mà các nhà địa chất Việt Nam dùng để mô tả miền Nam Tây Nguyên. Tên các hệ tầng, tuổi tuyệt đối từng lớp đá cụ thể ở Tà Đùng cần tra bản đồ địa chất chuyên ngành; ở đây chỉ nêu những mốc lớn đã được chấp nhận rộng rãi và ghi rõ chỗ nào còn ước lượng.
Dòng thời gian, nói gọn
Đi từ xưa tới nay, các mốc lớn được hiểu như sau. Con số triệu năm là khoảng ước lượng theo thang thời gian địa chất quốc tế:
- Trước kỷ Jura. Phần móng sâu của vùng gồm các đá cổ hơn, ít lộ ra ở Tà Đùng, nằm vùi dưới các lớp trẻ hơn.
- Kỷ Jura (khoảng 200–145 triệu năm trước). Một vùng biển nông và ven biển phủ phần lớn miền Nam Tây Nguyên. Bùn, cát, sét lắng thành lớp, sau nén chặt thành đá phiến sét, bột kết, cát kết.
- Kỷ Creta (khoảng 145–66 triệu năm trước). Rìa lục địa hoạt động mạnh, magma dâng lên tạo các khối granit và đá phun trào axit ở nhiều nơi trong vùng Đà Lạt – Lâm Đồng. Các lớp trầm tích Jura bị uốn nếp, nứt gãy.
- Paleogen (khoảng 66–23 triệu năm trước). Mảng Ấn Độ va vào mảng Âu – Á, cả Đông Nam Á bị xô đẩy, kéo giãn. Biển Đông mở rộng. Miền Nam Tây Nguyên chủ yếu bị nâng lên và bào mòn, đá trẻ phía trên bị bóc dần.
- Neogen – Đệ tứ (khoảng vài triệu năm gần đây). Những đợt phun trào bazan trải rộng tạo nên các cao nguyên Mơ Nông, Di Linh, Đắk Lắk. Dung nham phủ lên địa hình đã bị bào mòn trước đó.
- Đệ tứ đến nay. Vùng tiếp tục được nâng, sông Đồng Nai đào thung lũng sâu xuyên qua lớp bazan vào đá nền. Mưa nhiệt đới phong hoá bazan thành đất đỏ, tạo vỏ laterit, bô-xít.
- Hơn chục năm gần đây. Đập Đồng Nai 3 chặn dòng, thung lũng thành hồ, mở ra một chương địa mạo mới.
Điểm đáng nhớ: những lớp đá anh chị thấy ở Tà Đùng có tuổi chênh nhau rất xa. Đá phiến dưới đáy thung lũng có thể già hơn lớp bazan phía trên hàng trăm triệu năm, dù chúng nằm cách nhau chỉ vài chục mét theo chiều đứng.
Chương một: biển cổ và những lớp đá xếp chồng
Ở miền Nam Tây Nguyên và vùng Đà Lạt, các nhà địa chất mô tả rộng rãi những tầng đá trầm tích tuổi Jura gồm đá phiến sét, bột kết, cát kết, có nơi chứa hoá thạch sinh vật biển. Điều đó cho thấy vào thời khủng long, vùng đất nay là cao nguyên từng là đáy biển nông hoặc vùng ven biển, nơi sông mang bùn cát đổ ra và lắng thành lớp.
Ở Tà Đùng, đá trầm tích kiểu này thường không lộ trên mặt cao nguyên vì bị bazan phủ. Chúng xuất hiện trên những sườn thung lũng sâu, đáy khe suối, nơi sông suối đã cắt xuyên qua lớp bazan. Dấu hiệu nhận biết là đá có lớp mỏng xếp song song, thường nghiêng chứ không nằm ngang vì đã bị uốn nếp, màu xám, vàng, nâu, khi phong hoá vỡ thành mảnh dẹt và cho đất vàng, xám nhiều sạn. Loại đá cụ thể và tên hệ tầng ở từng vị trí cần đối chiếu bản đồ địa chất.
Chương hai: magma và rìa lục địa
Kỷ Creta là thời kỳ magma hoạt động mạnh ở vùng Đà Lạt – Lâm Đồng, gắn với việc một mảng đại dương chúi xuống dưới rìa lục địa ở phía đông, tương tự rìa Thái Bình Dương ngày nay. Magma giàu silic dâng lên, có nơi nguội dần dưới sâu thành granit, có nơi phun ra ngoài thành các đá phun trào axit. Các khối granit lớn hình thành trong thời kỳ này lộ ra ở nhiều nơi quanh Đà Lạt, Bảo Lộc, Di Linh.
Tà Đùng có granit lộ ra hay không, ở đâu, cần khảo sát chuyên môn. Điều quan trọng với người đọc là hiểu rằng nền móng của vùng không đồng nhất: dưới lớp bazan là một bức khảm gồm đá trầm tích uốn nếp, đá xâm nhập, đá phun trào cổ. Những khối đá bền trong bức khảm ấy có thể là lý do một số đỉnh núi, trong đó có thể có khối núi Tà Đùng, nhô cao hơn xung quanh. Bài về núi Tà Đùng bàn kỹ hơn những gì đã chắc và chưa chắc ở điểm này.
Chương ba: nâng lên, bào mòn và một châu Á biến động
Khoảng 50 triệu năm trước, mảng Ấn Độ va vào mảng Âu – Á, bắt đầu một chuỗi biến động kéo dài tới ngày nay: Himalaya và cao nguyên Tây Tạng được nâng lên, các khối vỏ ở Đông Nam Á bị đẩy trượt về phía đông nam dọc các đứt gãy lớn, Biển Đông mở ra trong khoảng từ hơn 30 tới khoảng 15 triệu năm trước theo các ước lượng phổ biến. Miền Nam Tây Nguyên, nằm ở rìa những biến động ấy, chủ yếu được nâng lên và bị bào mòn.
Bào mòn kéo dài hàng chục triệu năm đã bóc đi phần lớn đá phía trên, mài khu vực thành một bề mặt tương đối thấp và thoải, với những khối đá bền nhô lên. Chính bề mặt bào mòn đó là "tấm nền" mà sau này dung nham bazan chảy lên trên. Nếu bóc lớp bazan đi, người ta sẽ thấy một địa hình cổ với thung lũng và đồi núi riêng của nó, khác với địa hình hôm nay.
Chương bốn: dung nham phủ cao nguyên
Trong vài triệu năm gần đây, những đợt phun trào bazan lớn diễn ra khắp Tây Nguyên. Dung nham loãng chảy lan, lấp các thung lũng cổ, phủ thành những tấm rộng chồng lên nhau, tạo nên mặt cao nguyên phẳng. Ở vùng Tà Đùng, bazan phủ mặt cao nguyên phía bắc thung lũng sông Đồng Nai, và cũng phủ cao nguyên Di Linh phía nam. Thời điểm cụ thể của các lớp bazan tại chỗ cần số liệu định tuổi.
Một hệ quả thú vị: dung nham chảy vào thung lũng cổ có thể chặn hoặc đẩy lệch dòng sông. Ở nhiều nơi trên Tây Nguyên, các nhà địa chất ghi nhận sông hiện nay chảy theo ranh giới giữa bazan và đá nền, vì đó là nơi mềm yếu hơn, hoặc cắt ngang qua các dòng dung nham cũ tạo thác. Sông Đồng Nai đoạn qua Tà Đùng có chịu ảnh hưởng như vậy hay không, ở mức nào, là câu hỏi cần nghiên cứu chuyên sâu; điều thấy rõ là thung lũng hiện tại nằm đúng chỗ tiếp giáp giữa hai khối cao nguyên bazan.
Chương năm: sông đào thung lũng, mưa làm ra đất
Sau khi bazan phủ xong, vùng tiếp tục được nâng lên chậm. Khi mặt đất nâng lên, sông phải đào sâu lòng để giữ được độ dốc chảy về biển. Sông Đồng Nai cắt xuyên qua lớp bazan, xuống tới đá nền bên dưới, tạo thung lũng sâu với sườn dốc. Các suối nhánh đào theo, chia cắt mặt cao nguyên thành đồi. Cùng lúc, mưa nhiệt đới phong hoá bazan thành lớp đất đỏ dày, ở một số nơi tạo thành tầng laterit, bô-xít.
Đây là chương mà mọi đặc điểm của cảnh quan hôm nay được hoàn thiện: đồi tròn đất đỏ, sườn thung lũng dốc lộ đá nền, khe suối có thác ở chỗ cắt qua bậc bazan, khối núi rừng già trên cao. Nó vẫn đang tiếp diễn, chỉ là quá chậm để nhìn thấy trong đời người, trừ những sự kiện đột ngột như sạt trượt sau mưa lớn.
Cần nói thêm rằng các chương không tách bạch hoàn toàn. Phong hoá đã bắt đầu ngay khi lớp bazan đầu tiên nguội, trong lúc những đợt dung nham khác còn tiếp tục phun ở nơi khác; sông đã đào lòng từng đợt xen giữa các pha phun trào. Chia thành chương chỉ là cách để kể cho dễ nhớ, không phải những khối thời gian đóng kín nối đuôi nhau.
Đọc dòng thời gian trên một sườn đồi ven hồ
Một sườn thung lũng sâu ven hồ Tà Đùng, nơi đất đá lộ ra sau sạt nhỏ hoặc do mở đường, có thể cho thấy cả dòng thời gian theo chiều đứng, nếu đọc từ dưới lên. Ở dưới cùng, gần mặt hồ hoặc đáy khe, là đá nền cổ: lớp đá trầm tích nghiêng, màu xám hay vàng, vỡ thành phiến, hoặc khối đá xâm nhập hạt to. Đó là chương một và hai, hàng trăm triệu năm trước.
Lên cao hơn, có thể có một mặt tiếp xúc khá rõ, trên đó là bazan hoặc lớp đất đỏ phát triển từ bazan: chương bốn, vài triệu năm trước. Giữa hai thứ là một khoảng trống thời gian rất lớn, hàng chục triệu năm bào mòn của chương ba không để lại lớp đá nào, các nhà địa chất gọi là mặt bất chỉnh hợp. Trên cùng là lớp đất đỏ, lớp mùn và rễ cây hôm nay: chương năm. Đứng trước một vết lộ như vậy, chỉ cần vài bước chân theo chiều đứng là đi qua hàng trăm triệu năm. Khi quan sát, nên đứng ở chỗ đất chắc và tránh đứng dưới chân vách vừa sạt.
Chương mới nhất: con người viết thêm một trang
Khi hồ Đồng Nai 3 tích nước, thung lũng mà sông đã đào suốt hàng trăm nghìn năm bị lấp bởi nước trong vài mùa mưa. Đối với quá trình địa chất, đó là một sự kiện cực nhanh. Mức cơ sở bào mòn của các suối nhánh đổi đột ngột, bùn cát bắt đầu tích trong hồ thay vì đi ra biển, sườn đồi ven hồ chịu tác động sóng và nước lên xuống. Nếu một nhà địa chất tương lai khoan qua đáy hồ, họ sẽ thấy một lớp bùn hồ mỏng, rất trẻ, phủ trên đất và đá có tuổi hàng triệu năm.
Đặt hồ vào dòng thời gian giúp nhìn nó đúng tỷ lệ: một hồ chứa vài chục năm tuổi đứng trên một nền móng hàng trăm triệu năm. Nhưng tác động của nó lên cảnh quan, sinh thái và đời sống thì không hề nhỏ, như các bài trong chuyên mục Hồ thủy điện Đồng Nai 3 đã phân tích.
Câu hỏi thường gặp
Tà Đùng có hoá thạch không?
Đá trầm tích tuổi Jura ở miền Nam Tây Nguyên và vùng Đà Lạt có nơi chứa hoá thạch sinh vật biển. Ở Tà Đùng có ghi nhận hoá thạch hay không thì chưa thấy nguồn phổ thông mô tả. Việc tìm kiếm, khai thác hoá thạch trong rừng đặc dụng phải tuân theo quy định.
Vì sao đá ở đáy thung lũng khác đá trên cao nguyên?
Vì sông đã đào xuyên qua lớp bazan trẻ phía trên, xuống tới đá nền cổ hơn nhiều bên dưới. Trên cao nguyên chỉ thấy bazan và đất đỏ; xuống sườn thung lũng mới thấy đá trầm tích, đá xâm nhập có tuổi hàng chục đến hàng trăm triệu năm.
Tây Nguyên từng là biển thật không?
Theo các tài liệu địa chất Việt Nam, vào kỷ Jura phần lớn miền Nam Tây Nguyên là vùng biển nông và ven biển, để lại các tầng đá trầm tích có hoá thạch sinh vật biển. Sau đó vùng được nâng lên và không còn là biển.
Bazan ở Tà Đùng có trẻ hơn đá ở Đà Lạt không?
Có. Bazan Tây Nguyên phun trào trong vài triệu năm gần đây, trong khi phần lớn đá quanh Đà Lạt là granit, đá phun trào và trầm tích có tuổi từ kỷ Jura, Creta, tức hàng chục đến hàng trăm triệu năm.
Vùng Tà Đùng còn đang được nâng lên không?
Các nghiên cứu về chuyển động kiến tạo hiện đại cho thấy Tây Nguyên vẫn có chuyển động nhẹ, nhưng tốc độ rất chậm, không cảm nhận được trong đời sống. Bằng chứng gián tiếp là sông suối vẫn đang đào lòng ở nhiều nơi.
Có bản đồ địa chất vùng Tà Đùng không?
Việt Nam có bộ bản đồ địa chất và khoáng sản do cơ quan địa chất nhà nước thành lập ở các tỷ lệ khác nhau, trong đó có vùng Đắk Nông, Lâm Đồng. Người cần nghiên cứu nên tìm qua thư viện hoặc cơ quan địa chất chuyên ngành.