Hồ Tà Đùng có nhiều đảo vì nước của hồ chứa Đồng Nai 3 dâng lên phủ một vùng đồi bị sông suối chia cắt rất dày. Những đỉnh đồi cao hơn mặt nước mới vẫn nhô lên, thành đảo; những sống đồi còn nối với đất liền thành bán đảo. Số đảo vì thế không cố định: mùa khô nước hạ, nhiều đảo nối liền với bờ hoặc nhô thêm đảo mới; mùa nước cao, vài đỉnh thấp lại chìm.
Câu hỏi "hồ có bao nhiêu đảo" vì vậy không có một con số duy nhất. Các tài liệu giới thiệu thường nói "vài chục đảo lớn nhỏ", nhưng con số cụ thể tuỳ người đếm đảo nhỏ cỡ nào và đếm vào lúc mực nước ra sao. Bài này giải thích ba điều kiện làm nên quần đảo trong hồ: địa hình đồi bazan, mạng thung lũng dày đặc, và cao trình mặt hồ rơi đúng vào tầng giữa của các đồi.
Điều kiện thứ nhất: một vùng đồi, không phải vùng núi dựng
Nếu đập chặn một hẻm núi dốc đứng kiểu vùng núi đá phía Bắc, nước dâng sẽ tạo một hồ hẹp và dài, hai bên là vách, gần như không có đảo. Ngược lại, ở Tà Đùng nước dâng vào một vùng đồi lượn sóng, nơi cao nguyên bazan đã bị sông suối cắt thành vô số quả đồi đỉnh tròn, sườn vừa phải. Mỗi quả đồi giống như một chiếc bát úp; khi nước dâng tới lưng chừng, phần trên của chiếc bát nhô lên thành một hòn đảo tròn trịa.
Đỉnh đồi tròn là đặc trưng của vùng đá bazan và đá phiến bị phong hoá sâu dưới khí hậu nhiệt đới ẩm. Lớp vỏ phong hoá dày, mềm, bị nước mưa bào mòn đều theo mọi hướng nên đồi không có đỉnh nhọn. Đó là lý do đảo Tà Đùng mang hình dáng "bánh bao" quen thuộc thay vì những mỏm đá lởm chởm như đảo đá vôi. Phần địa chất của dạng đồi này được giải thích kỹ hơn trong chuyên mục Địa hình và địa chất.
Điều kiện thứ hai: mạng thung lũng dày như rễ cây
Mưa lớn mùa mưa trên cao nguyên tạo ra rất nhiều suối nhỏ. Qua thời gian dài, mỗi suối đào một khe, các khe hợp lại thành thung lũng lớn hơn rồi đổ ra sông Đồng Nai. Mật độ khe suối trên một đơn vị diện tích, mà nhà địa mạo gọi là mật độ chia cắt, ở vùng đồi bazan ẩm ướt này khá cao. Khi giữa hai khe gần nhau chỉ còn một sống đồi hẹp, vùng đất bị chia thành từng khối riêng.
Nước hồ dâng lên chiếm các khe đó trước tiên, vì chúng thấp nhất. Khối đất nào bị khe suối bao quanh ở mọi phía, và đỉnh của nó cao hơn mặt hồ, sẽ thành đảo. Khối nào còn nối với đất liền qua một yên ngựa cao hơn mặt hồ sẽ thành bán đảo. Như vậy, bản đồ đảo của hồ thực chất là bản đồ của mạng suối cũ, chỉ có điều được "tô màu" bằng nước.
Một hệ quả thú vị: nhiều đảo đứng thành chuỗi, nối đuôi nhau theo một hướng. Đó thường là dấu của một sống đồi dài bị các yên ngựa thấp cắt khúc. Nhìn từ trên cao, chuỗi đảo cho biết hướng của sống đồi xưa, còn những dải nước hẹp giữa các đảo là vị trí của những yên ngựa đã chìm.
Điều kiện thứ ba: mặt hồ rơi vào đúng tầng giữa các đồi
Số đảo phụ thuộc rất nhạy vào cao trình mặt nước so với độ cao các đồi. Nếu mặt hồ quá thấp, chỉ các thung lũng sâu bị ngập, hầu hết đồi vẫn nối với nhau, ít đảo. Nếu mặt hồ quá cao, nhiều đồi bị chìm hẳn, chỉ còn lại vài quả đồi lớn nhất nhô lên, cũng ít đảo. Đảo nhiều nhất khi mặt hồ nằm ở tầng giữa: đủ cao để phủ các yên ngựa, đủ thấp để chừa lại đỉnh của nhiều quả đồi.
Thiết kế hồ Đồng Nai 3 không nhằm tạo đảo, mà nhằm tích được nhiều nước cho phát điện. Việc mặt hồ rơi đúng vào tầng tạo đảo ở vùng Tà Đùng là một sự trùng hợp của địa hình. Cũng vì thế, đảo tập trung dày ở thượng hồ quanh Tà Đùng, nơi đồi thấp và chia cắt mạnh, còn về phía đập, thung lũng hẹp và sâu hơn, mặt hồ ít đảo hơn hẳn.
Có thể thử một phép hình dung đơn giản: lấy một tấm bìa có vẽ đường đồng mức của vùng đồi, rồi tô xanh mọi chỗ thấp hơn một độ cao nhất định. Tô ở mức thấp, chỉ ra vài dải sông. Tô ở mức cao, ra một hồ lớn với vài hòn đảo lẻ. Tô ở mức vừa, ra một mặt nước lốm đốm hàng chục đảo. Hồ Tà Đùng là trường hợp thứ ba, và mỗi mét nước lên xuống trong năm là một lần "tô lại" với độ cao hơi khác.
Số đảo đổi theo mùa như thế nào
Vì mặt hồ lên xuống theo quy trình vận hành (xem bài về mực nước dâng bình thường và mực nước chết trong chuyên mục), hình dạng quần đảo cũng thay đổi trong năm. Nguyên lý chung như sau:
| Thời điểm trong năm | Mực nước thường gặp | Điều xảy ra với đảo |
|---|---|---|
| Cuối mùa mưa, đầu mùa khô | Cao, gần mực thiết kế | Đảo nhỏ nhất về diện tích; vài đỉnh thấp có thể chìm; dải bờ đất đỏ hẹp |
| Giữa mùa khô | Hạ dần | Đảo to ra; xuất hiện đảo mới từ những gò đất ngầm; một số đảo gần bờ bắt đầu lộ yên ngựa nối liền |
| Cuối mùa khô, đầu mùa mưa | Thấp nhất trong năm | Nhiều đảo nối thành bán đảo; vành đất đỏ quanh mỗi đảo rộng nhất; vịnh nông trơ đáy |
| Giữa mùa mưa | Dâng lại | Yên ngựa chìm dần, bán đảo tách thành đảo; số đảo nhỏ tăng rồi giảm khi nước tiếp tục lên |
Mốc tháng ở đây chỉ là xu hướng thường gặp; năm mưa ít hay năm nhà máy điều tiết khác sẽ lệch đi. Người đếm đảo vào tháng Tư và người đếm vào tháng Mười Một có thể ra hai con số chênh nhau đáng kể, và cả hai đều đúng với thời điểm của mình.
Đảo hồ khác đảo biển ở những điểm nào
Đảo trên hồ Tà Đùng là đảo đất. Lõi đảo là đá bazan hoặc đá nền đã phong hoá, phủ một lớp đất đỏ dày. Đất này giữ nước tốt nhưng rất dễ bị sóng và nước mưa cuốn khi không có cây che. Vì thế, sau mỗi mùa nước lên xuống, chân đảo thường bị bào lõm thành một bậc nhỏ, và các đảo nhỏ trơ trụi dần thu hẹp. Ngược lại, đảo đá vôi hay đảo đá granit ngoài biển có thể đứng vững hàng nghìn năm trước sóng.
Đảo hồ cũng không có thủy triều, không có nước mặn, không có rạn san hô. Sinh vật trên đảo là sinh vật của rừng đồi bị cô lập, không phải sinh vật ven biển. Một quả đồi vốn nối liền với rừng lớn, nay thành đảo, sẽ dần mất những loài cần lãnh thổ rộng, trong khi các loài biết bơi, biết bay hoặc nhỏ bé vẫn có thể ở lại. Đây là hiện tượng các nhà sinh thái học quan tâm ở mọi hồ chứa vùng rừng trên thế giới, và cũng là một lý do khiến việc giữ rừng trên đảo có ý nghĩa.
Đảo, bán đảo, mũi đất và eo nước: đọc cảnh quan như bản đồ địa hình
Người quen đọc bản đồ địa hình có thể nhìn hồ Tà Đùng như một tấm bản đồ đường đồng mức thu nhỏ. Mặt hồ chính là một đường đồng mức: mọi điểm trên đường bờ có cùng độ cao. Đảo là nơi đường đồng mức khép kín quanh một đỉnh. Bán đảo là nơi đường đồng mức uốn thành một lưỡi dài, chỉ ra sống đồi. Vịnh là nơi đường đồng mức thọc sâu vào đất liền, chỉ ra một khe suối. Eo nước hẹp giữa hai đảo là dấu của một yên ngựa thấp.
Nhờ vậy, chỉ cần quan sát hình dạng bờ, anh chị đoán được khá nhiều về địa hình đáy hồ gần đó. Hai đảo đứng sát nhau qua một eo hẹp thường có đáy eo nông, vì đó là yên ngựa cũ. Một vịnh dài, thẳng, hai bờ dốc thường có đáy sâu, vì đó là khe suối lớn. Cửa một vịnh rộng mà bên trong bỗng hẹp lại thường là chỗ hai suối hợp lưu. Người đi thuyền lâu năm trên hồ đọc mặt nước theo đúng cách này, dù không gọi tên các khái niệm.
Một chú ý: đường bờ đổi theo mực nước, nên "bản đồ" mặt hồ mùa khô và mùa nước cao là hai đường đồng mức khác nhau. So sánh ảnh vệ tinh chụp ở hai thời điểm là cách đơn giản để thấy dải bờ bán ngập, và để đoán những yên ngựa nào sẽ nổi lên khi nước rút.
Vì sao đảo tập trung ở thượng hồ nhiều hơn gần đập
Hồ chứa trên sông thường có dạng hẹp dần về phía thượng nguồn và sâu dần về phía đập. Gần đập, nước phủ lên đoạn thung lũng sâu nhất, nơi sông đã đào lòng mạnh nhất qua hàng triệu năm; hai bên là sườn dốc, ít đồi thấp, nên ít đảo. Đi ngược lên thượng hồ, đáy thung lũng nâng dần, nước nông dần, và mặt hồ bắt đầu chạm tới tầng đồi lượn sóng của cao nguyên. Ở tầng này, mỗi quả đồi thấp đều có cơ hội thành đảo.
Vùng Tà Đùng nằm đúng ở đoạn chuyển tiếp ấy, lại có nhiều suối nhánh đổ vào từ phía cao nguyên Đắk Nông cũ, nên mật độ đảo cao bất thường. Nếu thiết kế đặt mặt hồ thấp hơn vài chục mét, nhiều đảo ở đây sẽ là đồi trên cạn; nếu cao hơn, nhiều đảo sẽ chìm và hồ sẽ tràn rộng vào cao nguyên. Quần đảo Tà Đùng, theo nghĩa đó, là kết quả của sự gặp nhau giữa một cao trình kỹ thuật và một dạng địa hình tự nhiên.
Những hiểu lầm hay gặp về đảo hồ Tà Đùng
"Đảo được đắp lên để làm du lịch." Không đúng. Đảo là đỉnh đồi tự nhiên có từ trước khi có hồ. Một số đảo có công trình của người dân hoặc cơ sở lưu trú, nhưng bản thân đảo không phải do con người tạo ra.
"Đảo nổi trên nước nên có thể trôi." Không đúng. Đảo là phần nhô lên của mặt đất liền khối bên dưới; nó gắn chặt với đáy hồ như mọi quả đồi. Thứ đôi khi trôi trên hồ là bè thực vật hoặc cây đổ, không phải đảo.
"Số đảo là cố định, có danh sách chính thức." Chưa thấy cơ quan nào công bố một danh sách đảo chính thức có tên và số thứ tự. Số đảo đổi theo mùa nước, nên các con số trên mạng chỉ nên hiểu là ước lượng.
"Đảo càng nhỏ càng đẹp, nên giữ trơ trụi." Đảo trơ trụi bị xói nhanh nhất. Thảm cỏ, cây bụi và rễ cây giữ đất là thứ kéo dài tuổi thọ của đảo, đặc biệt ở dải bờ lên xuống theo mùa.
Câu hỏi thường gặp
Hồ Tà Đùng có bao nhiêu đảo?
Không có con số cố định. Tài liệu giới thiệu thường nói vài chục đảo lớn nhỏ, nhưng số đảo thay đổi theo mực nước: mùa khô nhiều đảo nối với bờ hoặc nhô thêm gò mới, mùa nước cao một số đỉnh thấp chìm xuống. Khi đọc một con số, nên hỏi nó được đếm vào thời điểm nào.
Đảo lớn nhất hồ Tà Đùng rộng bao nhiêu?
Chưa có số liệu đo đạc chính thức được công bố rộng rãi cho từng đảo. Diện tích đảo còn đổi theo mùa vì chân đảo lộ hoặc chìm theo mặt hồ, nên một con số đơn lẻ dễ gây hiểu sai.
Vì sao đảo hồ Tà Đùng có hình tròn?
Vì chúng là đỉnh của những quả đồi bazan và đá phiến bị phong hoá sâu trong khí hậu nhiệt đới ẩm. Lớp đất dày, mềm bị mưa bào mòn đều mọi phía, nên đồi có đỉnh tròn, sườn thoải. Khi nước dâng tới lưng chừng, phần trên của đồi thành đảo tròn.
Đảo trên hồ có bị xói mòn mất không?
Có xói mòn, nhất là ở dải chân đảo bị nước lên xuống hằng năm và các đảo nhỏ không còn cây. Quá trình này chậm, tính bằng nhiều năm, nhưng các đảo rất nhỏ có thể thấp dần và chìm hẳn ở mùa nước cao. Thảm thực vật là lớp bảo vệ chính.
Có loài động vật nào sống riêng trên đảo không?
Đảo hồ Tà Đùng còn quá trẻ để hình thành loài riêng. Sinh vật trên đảo là sinh vật của rừng đồi cũ còn lại sau khi bị cô lập. Theo thời gian, các loài cần lãnh thổ rộng thường giảm đi, còn loài nhỏ, biết bay hoặc biết bơi duy trì được lâu hơn.
Có thể đi bộ sang đảo vào mùa khô không?
Một số đảo gần bờ có thể nối với đất liền khi nước hạ thấp, nhưng lối nối thường là bùn đất mới lộ, mềm và dễ lún. Đây không phải đường đi an toàn; nước có thể dâng lại sau mưa lớn hoặc khi nhà máy điều chỉnh vận hành.