Đá bazan ở Tà Đùng là dung nham đã nguội, sản phẩm của những đợt phun trào núi lửa trải rộng khắp Tây Nguyên trong vài triệu năm gần đây, thời kỳ các nhà địa chất xếp vào cuối kỷ Neogen và kỷ Đệ tứ. Dung nham bazan loãng, chảy xa, phủ thành từng lớp rộng tạo nên mặt cao nguyên. Ngoài thực địa, bazan nhận ra qua màu xám đen khi còn tươi, hạt rất mịn, nặng tay, thường có lỗ rỗng do bọt khí, và lớp vỏ phong hoá màu gỉ sắt.
Bazan là nền móng theo đúng nghĩa đen của cảnh quan Tà Đùng: đất đỏ là bazan đã phong hoá, đồi tròn là bazan bị chia cắt, thác suối nhiều nơi chảy qua bậc bazan. Bài này giải thích bazan là gì, vì sao Tây Nguyên có nhiều bazan đến vậy, bazan ở đây hình thành và trải ra thế nào, và cách nhận biết nó trên vết lộ ven đường, bờ suối hay bờ hồ. Không cần kiến thức chuyên ngành, chỉ cần quan sát kỹ.
Bazan là gì
Bazan là loại đá núi lửa phổ biến nhất trên Trái Đất. Nó hình thành khi magma từ lớp manti, phần nằm dưới vỏ Trái Đất, nóng chảy một phần rồi đi lên và phun trào ra bề mặt. Magma bazan nghèo silic và giàu sắt, magie so với magma của granit; nhờ vậy nó loãng, chảy dễ, ít nổ mạnh. Khi dung nham nguội nhanh ngoài bề mặt, các tinh thể không kịp lớn, nên đá có hạt rất mịn, nhìn bằng mắt thường gần như đồng nhất.
Toàn bộ đáy đại dương được lót bằng bazan, các đảo núi lửa như Hawaii hay Iceland chủ yếu là bazan, và trên lục địa có những vùng phun trào bazan khổng lồ phủ hàng trăm nghìn ki-lô-mét vuông. Tây Nguyên và một phần Đông Nam Bộ của Việt Nam thuộc về một vùng bazan lục địa như vậy, cùng với những vùng bazan rộng ở Lào, Campuchia và Thái Lan.
Vì sao Tây Nguyên có nhiều bazan
Các nhà địa chất liên hệ hoạt động phun trào bazan ở Đông Dương với những biến đổi lớn của vỏ Trái Đất trong khu vực sau khi mảng Ấn Độ va vào mảng Âu – Á. Va chạm này không chỉ dựng lên dãy Himalaya mà còn làm vỏ Trái Đất ở Đông Nam Á bị kéo giãn, xô lệch, mở đường cho magma từ sâu đi lên. Giải thích chi tiết về cơ chế vẫn còn được các nhà khoa học bàn luận, với những mô hình khác nhau; điều thống nhất là bazan Tây Nguyên phun ra trong vài triệu năm gần đây, rất trẻ so với tuổi của đá nền bên dưới.
Phun trào không diễn ra một lần mà thành nhiều đợt cách nhau. Theo cách phân chia phổ biến trong địa chất Việt Nam, có thể nhận ra các pha phun trào cổ hơn tạo nên những cao nguyên bazan rộng, bị phong hoá sâu thành đất đỏ dày, và các pha trẻ hơn để lại những nón núi lửa còn giữ được hình dạng, như ở vùng Krông Nô của Đắk Nông cũ hay quanh Pleiku. Bazan quanh Tà Đùng, với mặt cao nguyên đã bị chia cắt thành đồi và đất đỏ dày, mang dáng dấp của các pha cổ hơn; xác định tuổi cụ thể cần tài liệu địa chất chuyên ngành.
Dung nham trải thành cao nguyên như thế nào
Hình dung một đợt phun trào bazan kiểu khe nứt, dạng phổ biến tạo cao nguyên, qua các bước:
- Magma đi lên theo khe nứt. Vỏ Trái Đất bị kéo giãn tạo khe nứt sâu; magma bazan nóng chảy dâng lên theo đó.
- Phun trào êm. Vì magma loãng, khí thoát ra dễ, nên phần lớn phun trào là dung nham trào ra và chảy, ít nổ tung như núi lửa ở rìa Thái Bình Dương.
- Dung nham chảy lan. Dung nham chảy theo thung lũng, lấp chỗ trũng, có thể đi rất xa trước khi nguội, tạo các lớp dày từ vài mét tới hàng chục mét.
- Lớp chồng lên lớp. Qua nhiều đợt, các lớp bazan xếp chồng, xen giữa đôi khi có lớp đất cổ hoặc trầm tích mỏng hình thành trong thời gian nghỉ giữa các đợt.
- Nguội và nứt. Khi nguội, dung nham co lại, nứt thành khối hoặc cột. Bọt khí bị nhốt ở phần trên lớp tạo lỗ rỗng.
- Phong hoá và chia cắt. Sau phun trào là hàng trăm nghìn tới hàng triệu năm mưa nhiệt đới phong hoá đá thành đất đỏ, suối đào thành đồi.
Ở một số nơi trong vùng, dung nham chảy vào thung lũng cũ của sông, đẩy sông chảy lệch đi hoặc tạo thành bậc đá mà sau này nước chảy qua thành thác. Phần thác suối trên nền bazan được giải thích trong chuyên mục Thác, suối và đồi.
Nhận biết bazan ngoài thực địa
Bazan tươi và bazan đã phong hoá trông rất khác nhau. Bảng dưới gom các dấu hiệu chính để phân biệt với vài loại đá khác hay gặp quanh vùng:
| Đặc điểm | Bazan | Granit | Đá trầm tích (cát kết, bột kết) |
|---|---|---|---|
| Màu khi còn tươi | Xám đen, xám xanh sẫm | Sáng, hồng hoặc xám có đốm đen | Vàng, xám, nâu, thường có lớp |
| Hạt | Rất mịn, không thấy tinh thể bằng mắt | Hạt to, thấy rõ tinh thể thạch anh, fenspat, mica | Thấy hạt cát hoặc mịn như bùn đã đông cứng |
| Trọng lượng cầm tay | Nặng | Vừa | Nhẹ hơn, có loại xốp |
| Lỗ rỗng | Thường có lỗ tròn do bọt khí, nhất là phần trên lớp | Không có | Không có lỗ tròn kiểu bọt khí |
| Khi phong hoá | Vỏ gỉ sắt, bong thành lớp tròn như vỏ hành, ra đất đỏ | Vỡ thành cát sạn trắng, ra đất xám vàng | Vỡ theo lớp, ra đất vàng, xám |
Một dấu hiệu rất đặc trưng của bazan trong khí hậu nhiệt đới là phong hoá vỏ hành: khối đá tròn dần, bong ra từng lớp vỏ mỏng như lột hành, lõi bên trong vẫn còn đá tươi. Những tảng đá tròn đen nằm lẫn trong đất đỏ ở ven đường hay sườn đồi Tà Đùng thường là lõi bazan còn sót lại theo cách này.
Bazan lỗ rỗng, bazan đặc và bazan cột
Trong cùng một lớp dung nham, đá ở phần khác nhau có hình dạng khác nhau. Phần trên của lớp, nơi khí tích tụ trước khi đá đông cứng, có nhiều lỗ rỗng tròn hoặc dẹt, có khi xốp như bọt. Phần giữa lớp đặc chắc, ít lỗ, rất nặng. Ở một số nơi, khi lớp dung nham dày nguội chậm và đều, đá co lại theo những vết nứt đều đặn, tạo thành cột lăng trụ nhiều cạnh, như ở Gành Đá Đĩa (Phú Yên cũ) hay một số thác ở Tây Nguyên.
Về lâu dài, các lỗ rỗng của bazan có khi được lấp bởi khoáng vật kết tủa từ nước ngầm, tạo thành những đốm trắng hay xanh nhỏ trong đá. Lỗ rỗng và khe nứt cũng là nơi nước ngầm lưu thông, khiến bazan trở thành tầng chứa nước quan trọng ở Tây Nguyên. Bazan ở Tà Đùng có dạng cột hay không chưa có nguồn mô tả, nhưng lỗ rỗng và phong hoá vỏ hành thì dễ gặp ở nhiều vết lộ.
Bazan và nước ngầm
Bazan đặc thì gần như không thấm nước, nhưng một khối bazan thật ngoài tự nhiên hiếm khi đặc hoàn toàn. Nó có lỗ rỗng do bọt khí, có khe nứt do co ngót khi nguội, có mặt tiếp xúc giữa các lớp dung nham chồng nhau, nơi thường vụn và rỗng. Tất cả tạo nên một mạng lưới lỗ hổng mà nước mưa thấm qua lớp đất đỏ phía trên có thể đi vào và tích lại. Vì thế các vùng bazan Tây Nguyên là những tầng chứa nước ngầm quan trọng, cung cấp nước cho giếng đào, giếng khoan và nuôi dòng chảy của suối trong mùa khô.
Nước ngầm trong bazan không phân bố đều. Giếng khoan ở chỗ trúng khe nứt lớn có thể cho nhiều nước, cách đó vài chục mét lại khô, vì đá giữa hai khe đặc chắc. Mạch nước thường lộ ra ở chân sườn đồi, ở mặt tiếp xúc giữa bazan và lớp đá nền ít thấm bên dưới, tạo thành những mó nước người dân hay dùng. Ở vùng rìa cao nguyên như Tà Đùng, nơi lớp bazan mỏng dần về phía thung lũng sông, ranh giới bazan với đá nền thường là "đường mạch nước" chạy dọc sườn.
Bazan Tà Đùng trong vùng bazan Đắk Nông
Vùng Đắk Nông cũ có thể xem như một bảo tàng ngoài trời về bazan. Ở phía bắc, quanh Krông Nô, có những nón núi lửa đã tắt còn giữ hình miệng và hệ thống hang động trong dung nham, những ống rỗng hình thành khi lớp ngoài dòng dung nham đông cứng còn phần lõi nóng chảy chảy tiếp rồi rút đi. Ở trung tâm, quanh Gia Nghĩa, Đắk R'lấp, là mặt cao nguyên bazan phong hoá sâu với lớp vỏ laterit và bô-xít dày. Ở rìa phía nam, quanh Tà Đùng, bazan gặp thung lũng sông Đồng Nai và mỏng dần, nhường chỗ cho đá nền cổ hơn trên sườn dốc.
Đặt Tà Đùng vào bức tranh ấy giúp tránh hai sai lầm phổ biến. Một là nghĩ rằng mọi nơi có bazan đều có núi lửa ngay đó; thực tế dung nham có thể chảy rất xa từ khe phun. Hai là đánh đồng cảnh quan Tà Đùng với các điểm di sản núi lửa ở phía bắc; hai vùng có chung nền bazan nhưng khác nhau về tuổi, về dạng địa hình và về câu chuyện địa chất. Mối quan hệ giữa Tà Đùng và Công viên địa chất Đắk Nông được bàn trong một bài riêng của chuyên mục.
Từ bazan đến cảnh quan hôm nay
Nhìn lại cả chuỗi, bazan quyết định gần như mọi thứ ở Tà Đùng. Nó tạo mặt cao nguyên phẳng ban đầu. Phong hoá biến nó thành lớp đất đỏ dày, giữ nước tốt, nuôi rừng và vườn. Mạng suối khắc lớp bazan và đất đỏ thành đồi tròn. Nơi bazan còn cứng, suối gặp bậc đá và thành thác. Nơi bazan mỏng dần ở rìa cao nguyên, đá nền cổ hơn lộ ra trên sườn thung lũng sông Đồng Nai.
Vì vậy, khi đứng trên một quả đồi đất đỏ nhìn xuống hồ, anh chị đang đứng trên sản phẩm của những dòng dung nham nóng chảy từ hàng triệu năm trước, đã được mưa và thời gian biến đổi gần như hoàn toàn. Hai bài tiếp theo trong chuyên mục đi theo câu chuyện ấy: đất đỏ bazan hình thành ra sao, và lớp vỏ phong hoá với đá ong, bô-xít mà vùng bazan Đắk Nông nổi tiếng.
Câu hỏi thường gặp
Đá bazan ở Tà Đùng bao nhiêu tuổi?
Bazan Tây Nguyên nói chung phun trào trong vài triệu năm gần đây, thuộc cuối kỷ Neogen và kỷ Đệ tứ. Bazan cụ thể quanh Tà Đùng thuộc pha nào, tuổi bao nhiêu, cần tài liệu địa chất chuyên ngành có định tuổi; các bài phổ thông không nên nêu một con số chính xác.
Ở Tà Đùng có núi lửa không?
Đá bazan quanh Tà Đùng có nguồn gốc núi lửa, nhưng chưa thấy mô tả về miệng hay nón núi lửa còn nguyên hình trong vùng. Những nón núi lửa đã tắt nổi tiếng của Đắk Nông cũ nằm ở khu vực Krông Nô, cách Tà Đùng một quãng khá xa.
Núi lửa ở Tây Nguyên có còn hoạt động không?
Các núi lửa ở Tây Nguyên được xem là đã tắt; hoạt động phun trào trên đất liền ở đây đã ngừng từ rất lâu theo thang thời gian con người. Ngoài khơi Nam Trung Bộ có ghi nhận hoạt động núi lửa ngầm trong lịch sử gần, nhưng đó là khu vực khác.
Vì sao bazan có lỗ như tổ ong?
Vì magma chứa khí hoà tan; khi dung nham lên bề mặt, áp suất giảm, khí tách ra thành bọt. Nếu đá đông cứng trước khi bọt thoát hết, bọt bị nhốt lại thành lỗ rỗng. Phần trên của mỗi lớp dung nham thường nhiều lỗ nhất.
Đá bazan có dùng làm vật liệu xây dựng không?
Có, bazan đặc rất cứng, được dùng làm đá dăm, đá ốp, đá kè ở nhiều nơi. Tuy nhiên việc khai thác đá phải có giấy phép theo pháp luật khoáng sản, và trong rừng đặc dụng hay hành lang hồ chứa thì bị hạn chế chặt.
Làm sao phân biệt bazan với đá ong?
Bazan tươi màu xám đen, nặng, hạt mịn đồng nhất. Đá ong màu nâu đỏ, vàng, có cấu trúc rỗ như tổ ong với các ô chứa đất sét mềm, là sản phẩm phong hoá chứ không phải đá núi lửa tươi. Hai loại thường nằm gần nhau trên cao nguyên bazan.