Núi Tà Đùng là khối núi cao nhất vùng, được các tài liệu giới thiệu ghi nhận là điểm cao nhất của tỉnh Đắk Nông cũ, với độ cao xấp xỉ 2.000 m. Khối núi nhô hẳn lên khỏi mặt cao nguyên bazan xung quanh, nhiều khả năng vì nó được tạo bởi đá nền cổ cứng hơn và đã chống chịu bào mòn tốt hơn qua hàng triệu năm. Độ cao ấy làm khối núi mát hơn, ẩm hơn, đón mưa nhiều hơn, thành đầu nguồn của nhiều suối và nơi giữ những cánh rừng già nhất vùng.
Từ ngày 1/7/2025, núi nằm trong địa bàn xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng, phần lớn thuộc Vườn quốc gia Tà Đùng. Trước đó vùng này thuộc huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Bài này tách rạch ròi những gì nói chắc được và những gì còn cần nguồn, rồi giải thích cơ chế: vì sao có núi cao giữa cao nguyên, và độ cao tạo ra những khác biệt nào.
Con số độ cao: nói chắc được đến đâu
Trên mạng có nhiều con số khác nhau cho độ cao đỉnh Tà Đùng, chênh nhau vài chục mét. Điều đó không lạ: độ cao đỉnh núi có thể khác nhau tuỳ hệ quy chiếu, tuỳ bản đồ đo vào thời kỳ nào, tuỳ người ta lấy điểm cao nhất của khối hay của một đỉnh phụ. Con số được nhắc lại nhiều nhất xoay quanh mức gần 2.000 m. Nói "xấp xỉ 2.000 m, cao nhất Đắk Nông cũ" là cách diễn đạt an toàn; người cần con số chính xác cho nghiên cứu nên lấy từ bản đồ địa hình quốc gia.
Một chú ý khác: nhiều người nhầm độ cao của đỉnh núi với độ cao của vùng hồ hay của các điểm ngắm cảnh trên đường. Mặt hồ Tà Đùng thấp hơn đỉnh núi rất nhiều, và các đồi quanh hồ nằm ở tầng giữa. Khi một bài viết nói "Tà Đùng cao gần 2.000 m", hãy hiểu đó là đỉnh núi, không phải nơi anh chị đứng ngắm hồ.
Vì sao có một khối núi cao giữa cao nguyên
Mặt cao nguyên quanh Tà Đùng chủ yếu phủ bazan, đá núi lửa trẻ về mặt địa chất. Dung nham khi phun ra chảy lan theo địa hình, lấp đầy chỗ trũng và tạo mặt phẳng rộng. Nhưng nó không phủ được những khối địa hình đã cao sẵn từ trước. Những khối ấy nhô lên như đảo giữa biển dung nham, rồi qua thời gian, khi bazan quanh chân bị phong hoá và bào mòn, chúng càng nổi rõ.
Nguyên nhân thứ hai là độ bền của đá. Đá nền cổ ở nam Tây Nguyên gồm các loại đá trầm tích bị nén chặt, đá biến chất và đá xâm nhập như granit; một số loại rất bền trước phong hoá. Phần đá bền bị bào mòn chậm hơn đá xung quanh, nên theo thời gian càng cao hơn tương đối. Nguyên nhân thứ ba là chuyển động kiến tạo: vỏ Trái Đất ở Tây Nguyên đã được nâng lên không đều trong vài chục triệu năm qua, có khối nâng nhiều hơn khối khác.
Khối núi Tà Đùng do nguyên nhân nào là chính, đá đỉnh núi là đá gì, là câu hỏi cần bản đồ địa chất và khảo sát chuyên môn trả lời. Điều chắc chắn hơn là khối núi không phải một nón núi lửa trẻ: hình dạng nhiều đỉnh, sườn bị khe sâu cắt nát của nó khác hẳn dạng nón tròn của các núi lửa đã tắt ở vùng Krông Nô hay Chư Đăng Ya.
Độ cao tạo ra những khác biệt gì
Đi từ mặt hồ lên đỉnh núi là đi qua nhiều tầng điều kiện tự nhiên. Theo nguyên lý chung của vùng núi nhiệt đới, sự thay đổi có thể hình dung như sau:
| Yếu tố | Ở tầng thấp quanh hồ | Ở tầng cao gần đỉnh núi | Vì sao |
|---|---|---|---|
| Nhiệt độ | Ấm hơn | Mát lạnh hơn rõ rệt | Không khí lạnh đi khi lên cao, trung bình vài độ mỗi nghìn mét |
| Mây và sương | Sương thung lũng buổi sớm | Mây bám đỉnh nhiều giờ trong ngày | Không khí ẩm bị đẩy lên sườn, lạnh đi, ngưng tụ |
| Lượng mưa | Ít hơn | Nhiều hơn, nhất là sườn đón gió | Mưa địa hình tăng theo độ cao trên sườn đón gió |
| Đất | Đất đỏ bazan dày | Đất mỏng hơn, nhiều mùn, có chỗ lộ đá | Sườn dốc, nhiệt độ thấp làm mùn phân huỷ chậm |
| Rừng | Rừng thứ sinh, vườn, đồi cỏ | Rừng kín thường xanh núi cao hơn, cây phủ rêu | Độ ẩm cao, ít tác động người |
Những khác biệt này không có ranh giới sắc nét mà chuyển dần theo độ cao, và còn phụ thuộc hướng sườn: sườn đón gió mùa Tây Nam ẩm hơn sườn khuất gió. Mô tả chi tiết các kiểu rừng theo đai cao thuộc chuyên mục Vườn quốc gia Tà Đùng.
Khối núi là tháp nước của vùng
Các nhà thủy văn hay gọi núi cao là "tháp nước" của vùng thấp xung quanh. Khối núi Tà Đùng đúng với vai trò ấy theo ba cách. Thứ nhất, nó đón nhiều mưa hơn nhờ hiệu ứng địa hình. Thứ hai, nó có rừng che phủ tốt, lớp đất mùn và thảm mục giữ nước, nhả dần. Thứ ba, những giờ mây bám đỉnh giúp tán cây giữ lại thêm hơi ẩm, giảm bốc hơi, nhất là trong mùa khô.
Từ khối núi, nhiều suối toả ra các hướng, một phần đổ về hồ Đồng Nai 3. Đường phân thủy đi qua các đỉnh của khối núi quyết định giọt mưa rơi bên nào sẽ chảy về đâu. Vì thế, giữ rừng trên khối núi không chỉ là chuyện bảo tồn loài mà còn là chuyện nước cho cả vùng thấp: suối có chảy đều trong mùa khô hay không, lũ có về êm hay dữ, nước về hồ có trong hay đục. Mạng suối và lưu vực được bàn trong chuyên mục Thác, suối và đồi.
Sườn núi dốc và khe sâu: núi bị bào mòn ra sao
Khác với đồi tròn trên mặt cao nguyên, sườn khối núi Tà Đùng dốc và bị cắt bởi nhiều khe sâu hình chữ V. Đó là dấu hiệu của bào mòn mạnh: mưa nhiều trên sườn dốc tạo dòng chảy mạnh, suối đào lòng nhanh, sườn hai bên khe liên tục bị sạt nhỏ để giữ độ dốc cân bằng. Ở những vùng núi nhiệt đới ẩm, quá trình này diễn ra không ngừng, chỉ chậm lại nhờ rừng giữ đất.
Trên những sườn dốc nhất, lớp đất có thể mỏng, đá gốc lộ ra từng mảng. Đó là nơi các nhà địa chất có thể quan sát trực tiếp loại đá cấu tạo nên khối núi. Với người không chuyên, sườn núi dốc là lời nhắc về độ nhạy cảm của nó: phá lớp rừng trên sườn dốc là mở đường cho xói mòn và sạt trượt nhanh hơn nhiều so với trên mặt cao nguyên thoải.
Khe sâu trên sườn núi còn là nơi tích tụ: đá lăn từ sườn xuống, cây đổ, đất sạt dồn vào đáy khe, rồi mỗi trận lũ suối lại cuốn một phần xuống thấp. Nhìn một khe núi sau mùa mưa lớn, có thể thấy những vệt đá cuội mới, những thân cây gãy mắc ngang dòng, dấu hiệu của sức nước lớn đến mức nào. Đó là cách khối núi tự bào mòn mình, chậm theo thang người nhưng liên tục theo thang địa chất.
Một ngày của khối núi nhìn từ xa
Người ở quanh hồ quen thuộc với nhịp mây trên khối núi Tà Đùng theo lệ chung của vùng núi nhiệt đới. Sáng sớm trong mùa khô, trời thường trong, đường viền khối núi sắc nét trên nền trời, có khi sương chỉ đọng dưới thung lũng mà đỉnh núi thì lộ rõ. Khi nắng lên, sườn núi ấm dần, không khí ẩm bắt đầu bốc dọc sườn, và tới gần trưa những đám mây trắng đầu tiên hình thành ngay trên các đỉnh, như thể núi đang "nhả" mây.
Trong mùa mưa, nhịp ấy mạnh hơn: mây tích dày dần trên khối núi trong buổi trưa, chiều tối có thể thành giông, mưa đổ xuống sườn núi trước rồi mới lan ra vùng hồ. Ban đêm, khi không khí lạnh đi, mây trên đỉnh tan bớt, còn không khí lạnh từ sườn núi trượt xuống đọng ở thung lũng, góp phần tạo sương sớm hôm sau. Cơ chế khí tượng của những hiện tượng này được giải thích kỹ trong chuyên mục Khí hậu, sương và mây; ở đây chỉ cần thấy rằng khối núi là "động cơ" sinh mây của cả vùng.
Những điều thường bị nói sai về núi Tà Đùng
"Núi Tà Đùng là núi lửa đã tắt." Chưa có cơ sở. Bazan trên cao nguyên quanh đó là đá núi lửa, nhưng khối núi Tà Đùng có hình dạng và vị trí của một khối đá nền nhô cao, không phải nón núi lửa.
"Hồ Tà Đùng nằm trên đỉnh núi." Không đúng. Hồ nằm trong thung lũng sông Đồng Nai, thấp hơn đỉnh núi rất nhiều. Khối núi và hồ là hai tầng địa hình khác nhau.
"Đỉnh Tà Đùng cao nhất Tây Nguyên." Không đúng. Tây Nguyên có những ngọn núi cao hơn, ví dụ trên cao nguyên Lâm Viên hay khối Ngọc Linh. Đỉnh Tà Đùng được ghi là cao nhất trong phạm vi tỉnh Đắk Nông cũ.
"Núi càng cao thì càng nhiều đá lộ, ít đất." Không hẳn. Trên khối núi Tà Đùng, nhiều sườn vẫn phủ đất và rừng dày; đá chỉ lộ ở vách dốc và đáy khe. Rừng giữ cho lớp đất mỏng không bị trôi, nên mất rừng mới là lúc đá lộ ra nhiều.
"Tên núi là tên của hồ." Ngược lại: núi và vùng đất mang tên Tà Đùng từ lâu, hồ chứa chỉ mới có hơn chục năm và được gọi theo tên vùng.
Khối núi trong một vườn quốc gia
Phần lớn khối núi Tà Đùng thuộc Vườn quốc gia Tà Đùng, được nâng hạng từ khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng. Vùng lõi của vườn quốc gia là rừng đặc dụng, chịu quy định chặt về ra vào và hoạt động theo Luật Lâm nghiệp. Bài này không hướng dẫn đường lên đỉnh; việc vào rừng đặc dụng phải tuân theo quy định và hướng dẫn của Ban quản lý vườn.
Đối với khoa học, khối núi là một phòng thí nghiệm ngoài trời: nơi quan sát sự thay đổi rừng theo độ cao, nơi theo dõi tác động của biến đổi khí hậu lên các loài sống ở đai cao, và nơi nghiên cứu vai trò của rừng núi trong cấp nước cho hồ chứa phía dưới. Những kiến thức về rừng và loài trên khối núi được trình bày ở chuyên mục Vườn quốc gia Tà Đùng. Địa chất là phần nền, rừng là phần sống trên nền ấy; hai thứ không tách rời được.
Câu hỏi thường gặp
Núi Tà Đùng cao bao nhiêu mét?
Các tài liệu giới thiệu thường ghi đỉnh Tà Đùng cao xấp xỉ 2.000 m, là điểm cao nhất của tỉnh Đắk Nông cũ. Con số chính xác khác nhau đôi chút giữa các nguồn; người cần số liệu chuẩn nên tra bản đồ địa hình quốc gia.
Núi Tà Đùng thuộc tỉnh nào hiện nay?
Từ ngày 1/7/2025, vùng núi Tà Đùng thuộc xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng. Trước đó thuộc huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Phần lớn khối núi nằm trong Vườn quốc gia Tà Đùng.
Núi Tà Đùng làm bằng đá gì?
Chưa có nguồn phổ thông đáng tin nêu rõ loại đá ở đỉnh. Về nguyên lý, khối núi nhô khỏi cao nguyên bazan thường là đá nền cổ như đá trầm tích nén chặt, đá biến chất hoặc granit. Câu trả lời chính xác cần bản đồ địa chất và khảo sát thực địa.
Vì sao đỉnh núi Tà Đùng hay có mây?
Vì không khí ẩm bị gió đẩy lên sườn núi sẽ lạnh đi khi lên cao, tới độ cao nhất định thì hơi nước ngưng tụ thành mây. Đỉnh núi cao hơn tầng ngưng tụ nên thường bị mây bao, nhất là buổi sáng và trong mùa mưa.
Có thể leo núi Tà Đùng không?
Khối núi phần lớn nằm trong rừng đặc dụng của Vườn quốc gia Tà Đùng, việc ra vào chịu quy định của pháp luật lâm nghiệp và của Ban quản lý vườn. Muốn tìm hiểu, cần liên hệ Ban quản lý để biết khu vực nào được phép và theo điều kiện gì.
Núi Tà Đùng có ảnh hưởng gì đến hồ?
Khối núi là đầu nguồn của nhiều suối đổ về hồ, đón mưa nhiều và có rừng giữ nước. Rừng trên núi giúp dòng chảy về hồ đều hơn, ít bùn cát hơn, góp phần giữ chất lượng nước và tuổi thọ hồ chứa.